thiet ke web

Luật lệ của một Thế giới Mới

Ngày 20/01/2009 là một ngày trọng đại. Với nước Mỹ, đó là ngày TT thứ 44 Barack Obama chính thức tuyên thệ nhậm chức. Với thế giới, sự khởi đầu mới của nước Mỹ sẽ có tác động đáng kể tới cục diện thế giới, nhất là khi những vấn đề toàn cầu đang đè nặng lên vai các nhà lãnh đạo các nước. Thử thách ngày hôm nay mà thế giới đang đối mặt không gói gọn trong lãnh thổ của quốc gia nào. Và thế giới cũng cần bộ máy lãnh đạo cũng như thế.
Nếu muốn biết diện mạo thế giới hậu-Mỹ như thế nào, chỉ cần đọc lại bản báo cáo về hội nghị thượng đỉnh G20 tháng 11 năm ngoái tổ chức tại Washington D.C. Tất cả các đợt khủng hoảng tài chính từ trước tới nay đều do các “ông lớn” như IMF, Ngân hàng Thế giới hoặc nhóm G7 (sau đó là G8) xử lý.

Nhưng lần này các ông lớn nhận ra rằng họ không thể đơn phương đương đầu với vấn đề này mà phải mời các thị trường lớn mạnh nhất thế giới vào hợp sức. Việc phản ứng với nền kinh tế toàn cầu với độ kết nối cao đòi hỏi sự tham gia của các người chơi chính trên thế giới.

Chẳng hạn, để cung cấp tiền, các quốc gia như Trung Quốc hay Ả Rập Xê-Út có vai trò nòng cốt. Còn về tính chính thống, các nước phương Tây già cội là tàn dư của một thế giới xưa cũ và không còn khả năng tự cung cấp cho mình như xưa.

Tất nhiên không phải là mọi thứ đều thay đổi. Hội nghị vẫn được tổ chức tại Washington, và Tổng thống George W. Bush có vai trò chính trong việc thiết lập chương trình nghị sự. Mỹ là nước có những mối quan hệ sống còn với các nước quan trọng như Trung Quốc, Nhật Bản và Ả Rập Xê-Út, bên cạnh tình hữu hảo với các đồng minh cũ như Anh, Pháp và Đức.

Và dường như nhóm các quốc gia lớn đại diện cho thế giới này sẽ có khả năng phối hợp chính sách để bắt đầu việc giải quyết khủng hoảng. Vậy đây sẽ là một thế giới mới, nhưng không nhất thiết là nơi nước Mỹ bị loại ra, cũng không phải là nơi thiếu đi tiếng nói chung.
Thành công là kẻ thù lớn nhất của chính mình

Các nhà sử học khi nhìn lại cơn khủng hoảng có lẽ sẽ đồng tình rằng nó phần lớn là do thành công gây ra. Nghe có vẻ lạ, bởi chuỗi sự kiện dẫn đến suy thoái đều là những sự kiện không mấy “thành công”: hoảng loạn, gặm nhấm tín dụng, tăng trưởng chậm và thị trường chứng khoán trượt dốc.

Nhưng nhìn rộng hơn để suy xét những điều kiện làm nền cho tình trạng đó, chúng ta cần nhìn vào 2 thập kỉ gần đây. Thế giới tận hưởng sự ổn định chính trị, lạm phát ở mức thấp và sự bành trướng với quy mô lớn của nền kinh tế toàn cầu với gần 3 tỉ dân.

Các quốc gia khắp năm châu tăng trưởng ở những mức chưa từng có – 124 quốc gia phát triển ở mức 4% hoặc cao hơn thế chỉ trong vòng 2 năm 2006 và 2007. Ngay cả chiến tranh, mâu thuẫn trong nước và nạn khủng bố cũng gây ra ít xáo động chính trị hơn trong mấy thập kỉ gần đây, hay theo vài cách đánh giá khác, trong hàng thế kỉ.
Những điều tuyệt vời tưởng như chưa từng có này tạo ra hàng loạt vấn đề mới. Khi một số quốc gia có nguồn lực mạnh hơn và tài nguyên dồi dào hơn, họ trở nên quả quyết và có chủ nghĩa dân tộc cao hơn. Sự trỗi dậy của Iran, Venezuela và một nước Nga hồi sinh chính là sản phẩm của giá dầu.

Và chiến tranh Hồi giáo cũng vậy. Được hỗ trợ bởi hàng núi tiền, những ý tưởng Wahhabi len lỏi vào hầu hết tất cả các quốc gia Hồi giáo, thay đổi giọng điệu của người Hồi giáo ở khắp mọi nơi và đặt của cải vào tay các phần tử cấp tiến.
Còn trong thế giới kinh tế, sự thịnh vượng và lạm phát thấp giải phóng hai nguồn lực lớn. Đầu tiên là tín dụng rẻ mạt, và thứ hai là những kho vốn khổng lồ. Những khoản tiết kiệm thặng dư chồng chất lên nhau ở các nước châu Á đang trỗi dậy (và sau đó là các nước sản xuất dầu tại Trung Đông) với quy mô chưa từng có trong lịch sử. Thêm vào hai nguồn lực lớn này là hai yếu tố cũ – lòng tham và sự ngu dốt – và câu chuyện khủng hoảng 2008 bắt đầu.
Ở một bậc nào đó, vấn đề bắt nguồn từ việc nước Mỹ và một số nền kinh tế phương Tây khác tiêu dùng quá nhiều – nhiều hơn những gì họ sản xuất ra – và bù vào bằng cách đi vay. Nhưng nếu Mỹ tiêu quá nhiều thì châu Á lại quá tiết kiệm.

Tất cả số tiền tiết kiệm khổng lồ 10 triệu tỉ đó cần phải chảy về đâu đó, và trong vòng 2 thập kỉ phần lớn số tiền này được đổ lại Mỹ, nơi được coi là miền đất đầu tư an toàn và sinh lời nhiều nhất. Điều này dẫn đến tín dụng dễ dàng và chuỗi bong bóng trong các lĩnh vực như cổ phiếu công nghệ, trái phiếu hay địa ốc.
Bàn tay của chính phủ sẽ can thiệp tới đâu?
Cho dù u ám đến đâu, đợt khủng hoảng tài chính hiện nay rồi sẽ đi đến hồi kết. Chúng ta chưa thể vạch ra những nguyên nhân cụ thể, nhưng sự phối hợp của các chính phủ cuối cùng sẽ có tác động, bởi chính phủ có nhiều quyền hành hơn thị trường. Họ có thể đóng cửa thị trường, quốc doanh hóa các công ty và viết luật mới. Và Washington còn có quyền lực độc đáo: Họ có thể in tiền.
Can thiệp của chính phủ đã từng ổn định chủ nghĩa tư bản. Không một xã hội hiện đại nào có thể chấp nhận xảy ra thường xuyên trong thế kỉ 19, khi mà sự can thiệp là rất ít. Độ dài trung bình của một đợt khủng hoảng giữa năm 1854 và 1919 là 22 tháng. Còn trong hai thập kỉ vừa qua, các đợt khủng hoảng chỉ có tuổi đời trung bình là 8 tháng.

Giữa năm 1854 và 1999, nền kinh tế Mỹ co lại sau mỗi 49 tháng. Còn trong hai thập kỉ vừa qua, con số này là 100 tháng. Có rất nhiều yếu tố tạo nên sự thay đổi này, nhưng yếu tố quan trọng nhất là các chính sách tiền tệ và tài chính của Washington.

Tất nhiên, nền công nghiệp tài chính – trung tâm của cuộc khủng hoảng hiện hành – là khá khác thường nếu không muốn nói là độc đáo, bởi nó là mạch máu của nền kinh tế. Vì thế nó cần được kiểm soát đặc biệt kĩ càng.

Trong hầu như tất cả các cuộc khủng hoảng tài chính trong vòng 30 năm qua (và đã có hàng tá cuộc khủng hoảng như thế), chính phủ cần can thiệp để khôi phục lòng tin và độ tin cậy. Và họ đã thành công.
Liệu đây có phải là sự trở lại của nền kinh tế cũ? 35 năm trước phần lớn chính phủ các nước kiểm soát giá trị đồng nội tệ. Họ sở hữu các công ty thép, nhà máy sản xuất ô tô, công ty viễn thông và ngân hàng. Họ đặt giá vé máy bay hàng không, cước viễn thông, tiền hoa hồng trong chứng khoán và cả giá xi-măng. Thuế quan trong thế giới công nghiệp hóa cao hơn ngày hôm nay với vài lần.

Liệu có ai trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ quay trở về kỉ nguyên này? Hay các chính phủ tốt hơn là nên sở hữu và điều khiển nền kinh tế theo cách xưa? Không hẳn như vậy, nhưng yếu tố quy định sẽ quay trở lại.
Vấn đề không phải là khủng hoảng của CNTB, mà là khủng hoảng của toàn cầu hóa
CNTB là một hiện tượng toàn cầu. Nó được hun đúc bởi hoạt động của các công ty và chính phủ cũng như cá nhân khắp thế giới. Và trong công cuộc tìm kiếm sự phát triển và mức sống cao hơn, các quốc gia sẽ tiếp tục sử dụng các thị trường tự do và mậu dịch tự do để phục vụ cho mục đích đó.

Chính phủ không tự do hóa bởi vì Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson hay người tiền nhiệm của ông này là Robert Rubin yêu cầu họ làm như thế, mà vì đó là hướng đi sinh lợi (cũng như cái giá của việc không tự do hóa.) Quá trình này sẽ tiếp tục một cách chậm chạp và gián đoạn, tùy thuộc vào sức ép chính trị.

Nhưng có lẽ trong vòng 20 năm tới, phần lớn các quốc gia sẽ tự do hóa thị trường (theo hướng có kiểm soát) để gặt hái tăng trưởng hơn là quốc doanh hóa nền kinh tế.

Tất nhiên lịch sử của những đợt khủng hoảng từ xưa tới nay cho thấy các quốc gia đã từng thực thi các cuộc cải cách kinh tế mạnh bạo hơn để đem lại sự tín nhiệm cao hơn cho hệ thống của họ, thu hút nguồn vốn mới và sự phát triển nhảy vọt.
Suy ra, cuộc tranh luận hiện nay về chính phủ và thị trường là không có kết quả. Bất cứ ai suy nghĩ một cách nghiêm túc cũng sẽ hiểu rằng chúng ta cần cả hai yếu tố trên.

Câu hỏi đặt ra là ở chỗ, làm sao để cân bằng để đạt được tăng trưởng, tiến bộ, ổn định và công bằng xã hội. Mục đích chính không phải là chính phủ lớn hay nhỏ mà là bộ máy chính phủ sáng suốt. Làm thế nào để chúng ta khiến chính phủ phục vụ cho lợi ích của số đông, cho những thế hệ sau, cho lợi ích chung của xã hội?
Vấn đề thực sự mà chúng ta đang đối mặt ngày hôm nay không phải là sự khủng hoảng của CNTB. Đó là cuộc khủng hoảng của toàn cầu hóa. Thế giới mới đang hình thành sẽ không tự dưng mà biến mất. Chúng ta sẽ không quay trở lại với một hệ thống được thống trị bởi một nhóm các nước xung quanh khu vực Bắc Đại Tây Dương.

Những yếu tố làm nên sự lên ngôi của nền kinh tế toàn cầu là những động lực lớn về cấu trúc và đã có tác động trong hàng thập kỉ. Chúng không phải là phù du và sẽ không thui chột đi trong hoàn cảnh khủng hoảng tài chính hay suy thoái kinh tế. Thay vì thế chúng sẽ trụ vững, và trong quá trình đó chuyển rời quyền lực khỏi các trung tâm đã thiết lập ở phương Tây.
Điều này liệu có đem lại một thế giới ổn định hơn?
Đây là mối lo muôn thủa: rằng trong thời điểm chuyển giao, mọi thứ sẽ trở nên lộn xộn. Kể từ khi Thucydides quan sát rằng sự chuyển giao quyền lực từ Sparta tới Athens chính là nguyên nhân chính của cuộc chiến Peloponnesian, các học giả đã nhìn nhận những sự kiện như thế với con mắt e dè.

Nhưng lần này, nếu được quản lí tốt, sự “lên ngôi” của các nước khác cần phải mang tính bất ổn định. Nước Mỹ không chìm đủ nhanh để bất cứ một nước nào đó có thể thay thế. Nền kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm 1/5 nền kinh tế Mỹ.

Phần lớn các nước có tiếng nói lớn có chung quyền lợi và lí tưởng với Mỹ. Vì thế mối nguy hiểm thực sự sẽ là liệu Washington có đi “quá tay”, để các nước khác phải cân bằng hay không. Tình hình chính trị và quân sự Mỹ có vai trò lớn trong việc đem lại ổn định thế giới. Chính vì vậy nước Mỹ nên cung cấp luật định, các ban ngành và dịch vụ để giúp giải quyết các vấn đề chính của thế giới.
Nhưng hành động chung – để tạo ra công ích – đã trở nên khó hơn rất nhiều, bởi các hoạt động kinh tế và xã hội là toàn cầu, nhưng quyền lực chính trị là cục bộ. Các vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị thường có liên quan đến nhau, nhưng các giải pháp có xu hướng đến từ phía các chính phủ với mong muốn bảo vệ chủ quyền của mình.

Trừ phi chúng ta giải quyết vấn đề cơ bản này, không thì còn nhiều khủng hoảng nữa sẽ xảy đến. Và chúng ta cũng nên chuẩn bị tinh thần cho các phản ứng bột phát và không hiệu quả. Cuối cùng những phản ứng vụng về như thế có thể khiến các quốc gia tiếp cận với mọi thứ một cách nhỏ hẹp và mang tính cá nhân, tạo ra nhiều bất ổn và giảm hòa bình cũng như thịnh vượng cho thế giới.
Để minh họa điều này, chúng ta có thể liên tưởng tới bất cứ một vấn đề nghiêm trọng nào, và khả năng cao là nó liên đới tới nhiều quốc gia. Nạn khủng bố, mạng lưới tài chính, các bệnh truyền nhiễm, năng lượng, an ninh – tất cả các thử thách này đòi hỏi các phản ứng có phối hợp, và trong một vài trường hợp các tổ chức có thể thực thi chúng.

Chẳng hạn như bệnh truyền nhiễm. Ngày nay một đợt bùng phát đảm bảo sẽ lây lan rộng rãi. Điều đó có nghĩa là tất cả chúng ta đều có động cơ thúc đẩy chúng ta tìm ra nguyên nhân bệnh, cách ly các nạn nhân và nhanh chóng tìm ra thuốc chữa. Hoàn hảo hơn nữa, Tổ chức Y tế Thế giới sẽ can thiệp vào, yêu cầu gửi mẫu virus, đưa ra quyết tâm và ban hành các quy định.

Nhưng không may, họ thiếu vốn, thiếu nhân lực và thiếu quyền hành để đưa ra các quy định mà ai cũng phải tuân theo. Sự khập khiễng giữa vấn đề và giải pháp đã được đề cập tới nhiều. Vấn đề này vẫn chưa lên tới mức quốc tế. Nhưng tình trạng này rồi sẽ thay đổi.
Hai mặt của vấn đề: Khủng hoảng hay cơ hội
Đôi khi khủng hoảng đem lại những cơ hội tốt. Mùa thu năm ngoái, một số chính phủ phương Tây ban đầu phản ứng lại cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách tự mình xoay xỏa. Họ dường như quên mất khái niệm toàn cầu hóa – và không có gì toàn cầu hơn là vốn tư bản. Dòng tiền chảy khắp thế giới mà không có rào cảo nào, nó đòi hỏi sự phối hợp chính sách quốc tế.

Dù ý thức được điều này hơi muộn màng, nhưng việc các vị lãnh đạo tổ chức hội nghị G20 là một bước khởi đầu tốt. Nhưng để nhìn nhận cuộc khủng hoảng này một cách nghiêm túc, chúng ta phải nhìn xa hơn sự kiện này để hướng tới một giải pháp mang tính hệ thống. Chẳng hạn, IMF cần được cải tổ và cung cấp nhiều vốn hơn để đương đầu với những cơn hoảng loạn như thế trong tương lai.
Việc đổ lỗi cho tài lãnh đạo yếu kém của Mỹ dường như đã trở thành một thói quen, thậm chí là một dạng thể thao. Nó đúng với sự thật một phần nào, và hi vọng Tổng thống Obama sẽ tập trung vào những chủ đề này nhiều hơn người tiền nhiệm của ông.

Nhưng vấn đề không chỉ gói gọn trong lòng Washington. Vấn đề cũng nằm ở Paris và Moscow và Beijing và New Delhi. Chính phủ châu Âu vẫn do dự trong việc nhường quyền cho IMF và các tổ chức khác.

Liên Hợp Quốc ngày càng trở nên không phù hợp và xưa cũ, không có khả năng điều chỉnh cấu trúc của mình để xúc tiến cho hoàn cảnh mới. Rất nhiều các quốc gia với thị trường tiềm năng đang trỗi dậy bảo vệ chủ quyền của họ một cách gay gắt như nước Mỹ, thậm chí là hơn thế. Vậy có những cách nào khác?
Nếu chúng ta không tìm cách mở rộng và tăng cường luật lệ cũng như các tổ chức để hợp tác quốc tế thì thế giới sẽ phải chịu nhiều cuộc khủng hoảng hơn nữa và phản ứng của các nhà nước sẽ càng vội vã và đột ngột, quá ít và quá muộn.

Mặt khác, nếu chúng ta cùng chung sức để giải quyết các vấn đề chung của nhân loại, hãy tưởng tượng những cơ hội phi thường mà điều đó có thể đem lại cho tất cả mọi người. Hãy tưởng tượng nếu chúng ta tạo ra những luật lệ mới cho phép quá trình phi thường của toàn cầu hóa và tăng trưởng này truyền tới khắp các lĩnh vực của xã hội, nâng cao mức sống và sức khỏe cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, cho phép ngày càng nhiều người phát triển năng lực của mình.
Công dân và nhà nước toàn thế giới đã tạo ra nhiều điều kì diệu trong mấy thập kỉ qua. Đây là lúc các nhà nước ghép sự tài tình này với những dạng hợp tác mới. Dự án lớn của thế kỉ 21 sẽ là mô hình kiến trúc mới – mô hình giúp đảm bảo tăng trưởng và hòa bình cho thế giới.
• Catherine Trần (Theo bài viết của Fareed Zakaria đăng trên Newsweek)
theo vietnamweek
Share on Google Plus

About Thế Này Nhé

Thế này nhé blog tuyển tập những thứ linh ta linh tinh do hội chứng hứng thì viết thoai ^^ 

Mình là mình rất thích được gạ gẫm đi cafe cafao nhé. Bàn chiện gì kiếm ra tiền thì càng hay. Ko thì ta chém chiện Gu cafe, chiện đây đó, chiện "trính chị" thì cũng thú vị ^^

0 comments:

Blogger Template Blogger Theme Created by Blogger Tips

Đăng nhận xét

Thanks for your message !